Vài món cây trái của Huế

Người viết:
Nguyễn Hoàng

Huế là mảnh đất không mấy màu mỡ của miền Trung nhưng cây trái có một số đặc điểm không giống các miền khác của đất nước. Nay mình xin tán chuyện với các bạn để nhớ lại một số đặc sản của vùng đất này.

(Vừa nghe nhạc, vừa đọc nhé)

1. Cây và trái vả.

Nói phét cho sướng miệng rằng, rất ít nơi trên đất Việt (và cả thế giới nữa chăng?) chỉ có Huế là nơi được trồng nhiều cây vả. Nói phét như rứa cũng có cơ sở vì mình tìm khắp các cuốn tự điển không thấy từ tiếng Anh của trái vả. Đôi lúc chuyện trò, mời cơm với mấy ông tây, bà đầm thứ thiệt từ Mỹ, Úc sang, mình mang trái vả ra để hỏi xem họ gọi như thế nào thì đều nhận được cái lắc đầu quầy quậy, rằng không biết trái này! Các bạn học sinh trường Hàm Nghi còn ai nhớ có mấy cây vả được trồng kề dãy phòng thí nghiệm sát đường Đinh Bộ Lĩnh không? Cho dù câu thành ngữ “lòng vả cũng như lòng sung” khá phổ biến nhưng thật ra 2 loại trái này rất khác nhau và ít người nơi khác biết đến cây và trái vả. Trái sung nhỏ hơn nhiều, giống với trái ngái. Còn trái vả thì to hơn. Thân cây vả cũng khá lớn nhưng xốp, lá vả lớn và tròn, bằng chiếc nón lá, mấy mệ đi chợ thường dùng lá vả để gói hàng. Tán cây tỏa khá rộng, chiếm nhiều đất nên bây giờ chỉ có nông thôn mới trồng, thành phố thì tất đất, tất vàng, mấy ai mà trồng nữa. Trái thuờng kết thành từng chùm ở dưới gốc cây. Từ trái vả này người ta chế biến bao nhiêu món ăn hấp dẫn, nghe kể đã thấy thèm… Việc trồng vả cũng có mấy câu “ranh ngôn” như “Trồng cây vả, ngã một người” (không thấy lời giải thích) hoặc “Trồng cây vả, ăn cả một đời” (vì cây vả rất nhiều trái, ăn và bán thoải mái!), tùy ai là người bi quan hay lạc quan sẽ vận dụng câu nào ưng ý. Món ăn thì đây nè:

Vả trộn: Đây là món ăn khá quen thuộc nhưng chế biến hơi mất công. Chọn những quả già, cắt đôi rồi bỏ vào soong luộc cho đến lúc vừa mềm. Vớt ra, gọt vỏ xong thái mỏng. Thịt nạc xắt nhỏ cùng với tôm lột vỏ, trộn gia vị bỏ lên cho dầu mè vào và để lửa nhỏ riu riu. Thịt, tôm vừa chín tới thì bỏ vả thái vào cho trộn đều. Thêm mè rang, tiêu, rau thơm trước khi bắc cho xuống để ăn. Dùng bánh tráng gạo được nướng dòn lên để xúc với vả trộn để ăn thì ngon tuyệt. Thiên hạ khi về Huế nhớ ghé ăn món này kẻo quên hương vị nghe, dường như quán ăn nào cũng có phục vụ món này.

Vả hầm: Cũng luộc như trên. Sau khi gọt vỏ thì cắt từng quả thành 5,6 miếng nhỏ. Bỏ vào nồi mà hầm nhừ với thịt chân giò heo hay thịt sườn. Thêm gia vị tuỳ thích sẽ có món ăn tuyệt cú mèo. (Các cô trong thời gian cho con bú ăn vả hầm rất tốt vì bà mẹ sẽ có nhiều sữa, còn các cậu ăn vào hình như cũng rứa, okie!) Món này thì không ai bán, quý vị nào muốn ăn thì phải nhờ nội tướng trổ tài thôi.

Vả ăn sống: gọt vỏ, thái mỏng thành từng lát để cùng ăn với rau sống, chuối chát. Ðặc biệt ăn kèm với thịt ba chỉ và tôm chua thì hết ý nha.

2. Thanh trà:
Loại cây cùng họ với bưởi nhưng trái khác bưởi về hương vị. Thanh trà ăn vào không có vị đắng, ngọt và thanh hơn các loại bưởi (cho dù bưởi Biên Hoà hay bưởi Năm Roi đi chăng nữa). Mùa tháng bảy, tháng tám ở Huế là mùa Thanh trà đến độ ngon. Vùng đất nổi tiếng về giống này là ở làng Nguyệt Biều, ngoại vi Tp. Huế. Giá cả cũng đắt. Thường một trái bằng chiếc tô khoảng 15.000đ. Cũng có lẽ ngoài Huế, không đâu trên đất nước ta có Thanh Trà.

Du khách đến Huế chưa được thưởng thức món Thanh trà này là cả một sự thiệt thòi. Còn ai đã ăn rồi nay đi xa, cố gắng nhớ lại để thèm hi.

3. Dâu Truồi (Cây và trái dâu xứ Truồi):

Truồi là địa danh một vùng đất thuộc huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế, đã đi vào ca dao Việt Nam:
“Núi Truồi ai đắp nên cao,
Sông Gianh ai bới, ai đào nên sâu”

Vùng đất này trù phú, thơ mộng nhờ có giòng sông Truồi, nước trong và sâu, in bóng những hàng cây, bóng tre hai bên bờ. Các cô gái Truồi ăn nói nhẹ nhàng và cũng khá lãng mạn (nhắc lại tí, vì mình học 4 năm TH đệ I cấp ở Truồi mà). Thổ sản ở đây là chè xanh, mít và đặc biệt là trái dâu. Dâu Truồi có trái bằng ngón chân cái, khi đến độ chín, tách vỏ ra bỏ vào miệng nghe vị ngọt thanh trôi từ từ xuống cổ họng. Món này thích hợp cho quý ông không ăn được của chua. Còn nghĩ đến những loại dâu khác như dâu đất, dâu rừng hay dâu gia thì như mình đây, nước bọt tuôn trào nhưng nỏ dám ăn vì chua quá!

4. Măng cụt:
Loại cây trái này khéo chiều xứ Huế. Từ quê hương cây trái Nam bộ, măng cụt bỏ qua các tỉnh từ Bình Thuận đến Ðà Nẵng rồi lại xuất hiện ở Huế. Từ Huế trở ra không còn bóng dáng cây măng cụt nữa, chẳng biết vì sao? Tất nhiên sản lượng ở Huế không nhiều như ở miền nam nhưng cũng khá nhiều vườn trồng giống cây này nhất là miệt Kim Long. Măng cụt là giống cây phát triển chậm, lâu già. Phải mất khoảng 15 năm từ khi gieo trồng cây mới cho quả và cây cứ phát triển tà tà, lá cây xanh quanh năm suốt tháng. Ở vườn quê mình, gia đình có trồng một cây từ thưở mình mới sinh ra, nay vẫn thấy cây măng cụt ấy “trẻ trung” chứ không phải “già khú đế” như mình, hu hu.

Măng cụt Huế có vị ngọt, thanh đậm đà hơn măng cụt miền nam nên giá cả đắt hơn. Vào chợ Đông ba, phải tỏ ra là dân Huế sành điệu mới mua được măng cụt Huế lúc vào mùa. Không rõ có phải vì vận tải đường xa nên măng cụt nam kém ngon hơn hay không?

Măng cụt nhiều múi nhỏ và không hạt (hay hạt lép, nhỏ) thì ngon hơn loại ít múi mà to vì thế nào cũng kèm hạt to. Muốn biết bao nhiêu múi, cứ xem số lượng cánh của cái giống như hoa thị nằm ở chỏm của trái, có bao nhiêu cánh là bấy nhiêu múi.

Một người bạn của mình tư vấn rằng, khi ăn măng cụt thì phải cho cả trái vào miệng (tất nhiên sau khi đã bỏ vỏ), làm một ngụm, ăn thế mới đã.

Tiếng Anh thì gọi măng cụt là mangosteen, ở Huế ngoài cách gọi măng cụt, một số vị lớn tuổi còn gọi là “giáng châu” nữa.

5. Vú sữa
:
Món này thì không hẳn là đặc sản của xứ mềnh nhưng ngày trước vườn Huế thì trồng nhiều. Có hai loại vú sữa, khi gần chín trái vẫn màu xanh trắng gọi là vú sữa nếp, còn ngả sang màu tím thì người ta gọi vú sữa loòng (bắt chước cách gọi gạo nếp và gạo tẻ (loòng)). Theo mình, cho dù tên gọi như vậy nhưng vú sữa loòng ngon hơn, hấp dẫn hơn, khi mô trái chín là biết ngay vì nó đổi màu từ xanh sang tím. Những tháng năm ngày xưa ấy, vào khoảng tháng 2, 3 mình đi học về trên các con đường Lê Văn Duyệt, Lê Huân,… những trái vú sữa chín nhừ rồi khô trên cây trong những nhà vườn kín cổng cao tường làm mình thèm thuồng và tiếc rẻ nhưng chẳng dám “đột nhập” để bẻ trộm, bởi vì đã là học sinh Hàm Nghi, Trung học đệ II cấp chứ không còn là oắt con ở cấp dưới để có thể “guậy” được.

Món vú sữa này khá phổ biến ở vùng Đông Nam Á, tên tiếng Anh là “star apple” vì khi cắt ngang trái vú sữa thì có hình sao (khác với star fruit là trái khế), còn mấy bạn trong nước thì dịch “word – by – word” là “milky fruit”, không biết có chính xác không?

6. Cây, trái me:
Món này thì có khắp nơi, nhưng đã là học trò xứ Huế, học trò Hàm Nghi thì ít nhiều ai cũng có kỷ niệm. Me được trồng khắp nơi, trong Đại nội, lăng tẩm, chùa chiền do cây luôn xanh tươi bốn mùa, ít sâu và vững chắc, chống chọi được thiên nhiên khắc nghiệt, mưa bão ở Huế.

Năm lớp 11, học trò Hàm Nghi được bố trí học dãy phòng cổ kính, song song với đường Đoàn Thị Điểm, phía sân trước có nhiều cây me cổ thụ. Mùa quả chín, nhìn lên cây những chùm me màu nâu, đà ẩn hiện giữa những tán lá khiến mấy chú học trò thèm thuồng, chảy nước miếng. Cây cao, không có nhánh nhỏ bên dưới và cũng sợ thầy giám thị phạt nên không ai dám leo trèo, mấy chú tìm cách ném cho trái rụng xuống. Phổ biến nhất là lột dép ném lên, hình như có một vài chú lớp B2 này này bị dính dép trên cây đành phải đi chân về nhưng rồi lần khác vẫn không chừa. Mình nhớ, có lần một chú 11b1 (quên tên rồi), bị mắc kẹt cả 2 chiếc dép trên cây (dùng chiếc này cứu chiếc kia nhưng cả hai bị chết dí), các bạn khác cố gắng kiếm đá để chọi nhưng vì chuông reo vào học, mình không biết việc giải cứu mấy chiếc dép ấy có thành công không?

Món phổ biến từ me ấy là me rốp (me chín rục tự nhiên), me dầm (dầm với nước đường, cho lên men uống mát dịu, thường làm trong dịp tết).

Me cam thảo là món cũng phổ biến trong giới học trò, chua chua, ngọt ngọt quả là hấp dẫn. Tuy nhiên vấn đề an toàn thực phẩm trong sản xuất món này từ trước đến nay là điều đáng “băn khoăn”. Vị nào ở xa về đừng có thử lại mần chi, tào tháo rượt thì chạy không kịp đó.
———–

Mấy địa danh trong bài Hò ru em sau đây thì vẫn còn nhưng đặc sản ở các vùng đó nay không còn thấy nữa:

Ru em cho théc cho muồi,
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu,
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh
Chợ Dinh bán áo con trai
Triều Sơn bán vải, Mậu Tài bán kim,…

Cau Nam Phổ thì gắn với câu ca dao tếu “Gái Nam Phổ ở lổ trèo cau”, thêm vài món nữa, chẳng hạn quýt Hương Cần, vải trạng (nổi tiếng thời trước, nay đã tàn phai) nhưng chắc ít người quan tâm nên mình tạm ngừng nơi đây.

Để kết thúc bài này, mời các bạn nghe thêm một bài hát nữa:

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: