Chuyện tào lao xịp bộp về trường lớp ngày xưa

Người viết:
Nguyễn Hoàng

Tiếp bài trước, nay kể chuyện cũ, con cà con kê cho vui.

Dân Hàm Nghi phần lớn sống ở nội thành, nhìn chung thuộc loại chăm học, được gia đình quản lý hơi chặt nên ít máu me văn nghệ, thể thao như học sinh Nguyễn Tri Phương hay Quốc học. Không có được “Yêu người chung vách”, chỉ cách ngăn bởi bề rộng của một con đường như Quốc học và Đồng Khánh nhưng Hàm Nghi cũng được vây quanh bởi các trường như Nữ Thành Nội, Bồ đề Thành Nội (bây giờ là trường THCS Thống Nhất), trường Quốc gia Nghĩa tử (đã giải tán, nguyên ở đường Nguyễn Biểu thì phải) nhưng học sinh Hàm Nghi vốn nhát gái, được cái mạnh miệng trêu chọc các em từ xa. Hình như cho đến cuối bậc trung học, trong lớp B2 chưa ai công khai tuyên bố là có bồ thì phải??

Có lẽ cũng nhờ vậy mà những năm đó học sinh Hàm Nghi học hành đàng hoàng, thi Tú tài 1, Tú tài 2 nhiều người đậu ưu, bình hơn các trường khác. Có thể kể vài người bậc đàn anh Nguyễn Khoa Quốc Anh, Tôn thất Quỳnh Du,…

Năm lớp 12, mấy lớp B1-B3 được học dãy phòng vuông góc và sát với đường Đinh Tiên Hoàng, phía sau là Thư viện, theo thứ tự là B3, B2, B1 tính từ phía hàng rào vào. Giờ ra chơi, các chú học trò 12 B nhà ta tụm năm tụm ba sát hàng rào, thấy mấy em Nữ Thành Nội, Bồ Đề đi học về, các chú tán lung tung từ xa nên mấy ẻm không nghe được. Chỉ khi hô đồng thanh: một, hai, một, hai,… các em mới cuống lên, có lần làm một em trẹo guốc, cả bọn được dịp cười he he, coi bộ khả ố quá hi! Chuyện này thì B1 đầu têu, B2, B3 tham gia hưởng ứng.

Vào năm lớp 11, Hàm Nghi bắt đầu nhận học sinh nữ nhưng tiếc thay chẳng có bóng hồng nào chịu học ban B cả. Các em kém và sợ toán chứ không phải sợ mấy chú nam Hàm Nghi. Cùng tuổi, cùng trang lứa, các cô trưởng thành và già dặn hơn mấy chú “đầu đất” ở các trường nam. Đây cũng là một sự thiệt thòi cho mấy chú học trò so với sau này. Khi thấy có bóng hồng, áo dài tha thướt trong sân trường, các chú cũng chỉ “kính nhi viễn nhi” chứ không ai dám tiếp cận, làm quen.

***

Lớp 10B2 niên khóa 1971-1972, lớp trưởng là Đoàn Ngọc Hòa, lớp phó là Nguyễn Văn Thiết. Học hơn nửa năm, sau tết âm lịch là chiến sự lan tràn, trường lớp đóng cửa, học sinh nghỉ học. Việc học hành ở đệ nhất lục cá nguyệt (tức là học kỳ 1 ngày nay) trong lớp diễn ra bình thường, chưa có những hoạt động nổi bật, một phần do học sinh mới bắt đầu quen nhau (xáo lớp từ TH đệ I cấp, thu nhận học sinh từ các trường khác đến). Chuông reo thì vào học, hết giờ thì về. Giờ giải lao thường các bạn ít tiền thì xơi đậu phụng da cá, nhiều tiền hơn thì ăn bánh bao. Chỉ có một sự kiện đáng nhớ là trong 1 giờ học (môn gì thì mình không kể) người đầu têu gây chuyện là mình, có liên quan đến Trần Viết Hiếu và người lãnh hậu quả là Đoàn Ngọc Hòa, cả lớp bị ảnh hưởng lây. Bọn học sinh thời nào chẳng nghịch ngợm, không nghịch là không phải học trò, vì “… thứ ba học trò” mà ma quỷ không có thì hạng nhất được dành cho mấy anh, mấy ả chứ ai nữa. Có nhiều kiểu nghịch ngầm chẳng hạn mấy bạn ngồi học ở bàn sau, thỉnh thoảng chơi trò búng tai, giựt tóc, lấy thước kẻ chọc ngoáy hay dán sau cổ áo các bạn ngồi bàn trước những mảnh giấy viết lung tung như là “cần vợ”, “muốn yêu”,…

Một lần,vào gần cuối giờ học, mình thọc lét và búng tai Hiếu nhưng hắn sợ giáo viên nên im thin thít không có phản ứng gì. Thấy vậy, mình tiếp tục chơi ngẵng là treo sau cổ áo của hắn mảnh giấy có ghi “Đây là một nhà sư chân chính”. Mấy đứa ngồi cùng bàn bụm miệng cười. Khi tiếng trống hết giờ, giáo viên vừa đứng dậy bước ra cửa, Hòa mới đưa tay gõ nhẹ trên đầu Hiếu và hô to “boòng” (mô phỏng tiếng chuông). Giáo viên tưởng học sinh hỗn láo gì đó liền quay lại lớp và hỏi đứa nào mới nói gì đó. Hòa vừa đứng lên thế là giáo viên làm một tràng chửi rủa te tua, đòi xé học bạ, đòi đuổi học Hòa,… cả lớp lặng thinh, Hòa tái mặt, mình khiếp, các bạn khác chắc cũng run. Giáo viên không cho một cơ hội nhỏ để học sinh trình bày câu chuyện. Chửi mắng đã đời xong, giáo viên cắp cặp ra khỏi lớp. Hình như sau đó Hòa có gặp giáo viên để giải thích và giáo viên biết mình nhầm nên những lần sau vào lớp, giáo viên không nhắc lại chuyện ấy nữa.

Hòa cũng làm lớp trưởng năm lớp 11 và cho đến đầu năm lớp 12. Sau đó, không nhớ rõ lý do gì (hình như Hòa chuyển sang ban A), lớp trưởng được giao cho mình phụ trách cho đến hết năm học.

Thỉnh thoảng sau này mình có gặp Hòa, Hòa cũng làm nhiều nghề lặt vặt, hàn gò, sửa chữa. Cách đây hơn 10 năm, Hòa bị ốm một thời gian rồi chết sau trận lụt năm 1999 ít ngày. Bẵng một thời gian mình mới được nghe kể lại như rứa. Thật tội cho Hòa!

Kể chuyện tiếp chơi. Mình ngồi dãy phía ngoài, kề cửa ra vào, ở bàn thứ hai, còn có Lê Thế Cánh (lên lớp 12 Cánh chuyển sang ban A để thi vào Y khoa) rồi Nguyễn Kinh Sử,…Về mùa lạnh thì Sử chuyên trị khoác chiếc áo blouson màu xám tro. Bàn trước có Đỗ Hữu Vị, Trần Viết Hiếu (năm lớp 10, còn năm lớp 11 & 12 Hiếu chuyển sang ngồi dãy trong, bàn thứ ba cũng với Tuấn). Đỗ Hữu Vị hồi ấy người mảnh mai, tóc cắt khá ngắn, mặt mày trắng trẻo, lúc nào cũng quần xanh áo trắng, đúng điệu thư sinh chứ không phải “phát tướng” như bây giờ (mà giờ tay nào tay nấy cũng phát tướng, phát bụng,…) Nhớ chuyện là năm lớp 12, bộ nhai của mình bị sâu, nhức nhối không chịu nổi, Vị giới thiệu đến nha sĩ Dương Đình Phong ở Ngã Giữa (tức là đường Phan Bộ Châu, nay là đường Phan Đăng Lưu)để chữa răng. Kết quả là nhổ một cái răng hàm và trám 1 cái khác. Phải nói là NS Phong làm rất tốt, cẩn thận. Đến nay 37 năm mà cái răng trám này còn tốt và đóng vai trò chính trong việc nghiền thức ăn của mình. Còn Hiếu thì bộ răng bị “siết ăn”, không biết bây giờ còn giữ được hay phải xài răng trồng??

Tết năm 1971, trường Hàm Nghi ra đặc san đầu tiên có tên “Ra Khơi”, bìa màu hồng, hình như trong lớp không ai góp bài. Qua năm sau, trường lại ra thêm đặc san thứ hai, bìa màu xanh, lấy tên “Về nguồn”, có Nguyễn Hữu Luận đóng góp một bài tùy bút (bây giờ gọi là bài tản mạn), có tên là “Mùa xuân và con ong vàng”, lời văn nhẹ nhàng, dễ thương. Sở dĩ mình nhớ chuyện này vì lúc đó có mình có “xáng tác” một truyện ngắn gửi cho đặc san này nhưng không được đăng, có lẽ vì viết kém hay nội dung không phù hợp gì đó. Mình với Luận cũng có nhiều chuyện để nhớ. Ngoài chuyện mình hay ghé nhà Luận, căn phòng ở dãy nhà ngang sau vườn để nghe nhạc, nghe đàn, 2 đứa cùng nhau luyện dịch Việt Anh. Cứ mỗi tuần thay phiên nhau đưa ra một câu chuyện hay mẩu báo bằng tiếng Việt, mỗi đứa dịch bài của mình để hôm gặp lại thì trao đổi, đối chiếu. Nhìn chung về mặt văn phạm thì không có điều gì đáng bàn, nhưng về mặt từ vựng thì Luận dùng những từ mang nét văn chương, chính luận trong khi mình dùng những từ ngữ thông thường, đơn giản hơn. Điều này cũng là dấu hiệu để thấy rằng sau này Luận theo học ngành sư phạm Anh văn và làm việc thường xuyên với tiếng Anh là đúng sở trường.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: