Bầu trời và mây

Nếu bầu trời không mây,

Nhuốm màu xanh yên ả

Khi mặt trời còn xa

Không gian mênh mông quá.

 

Nếu vào trưa mùa hạ

Mây trốn về nơi đâu

Nắng tỏa rát trên đầu

Thèm bóng mây chi lạ

 

Đời lướt trôi lặng lẽ

Nếu chẳng nhớ người xưa

Chắc hẳn sẽ lâu già

Đêm dài thôi thao thức

 

Nếu một ngày họp mặt

Vắng bóng nhỏ yêu kiều

Lòng chợt nhói quạnh hiu

Giữa vòng tay bè bạn

 

Chẳng mong tan rồi hợp

Khi quá nửa đường trần

Xin một chút phù vân

Dịu nỗi niềm xa vắng!

——————————————

Nguyễn Hoàng

(lâu lâu post vài bài kẻo quên)

Một thoáng với “Bên cầu biên giới”

Người viết:

Nguyễn Hoàng

Bài “Bên cầu biên giới” mình nghe nhiều lần, từ rất lâu. Nhưng mỗi lần nghe lại, tâm trạng như kẻ đang đứng “bên cầu biên giới” vậy. 
——————————-
Chàng trai trẻ mãi lang thang trên con đường vô định, chợt một hôm ngừng bước bên chiếc cầu biên giới, ngắm nhìn giòng sông đang tuôn trào nước lũ. Hoài niệm xưa chợt ào về với những đắng cay, đau thương ở quê nhà mà kẻ lãng du ấy đã từng nếm trải.

Ôi buồn! “Đi là chết trong lòng một ít”. Cố quên hình bóng mái đình, cây đa, mối tình dang dở của một thời tuổi trẻ sớm úa màu những nào dứt bỏ được. Trong cõi vô thức vẫn còn ẩn nấp đâu đây bóng hình thơ ngây, khờ khạo của ngày xưa.

Như kẻ độc hành trong sa mạc, ánh nắng chiều nhợt nhạt chiếu lên nhịp cầu, ảo ảnh, mơ mòng đã đưa chàng lãng tử phiêu lưu trong mộng tưởng. Em đã đến bên tôi trong khung cảnh êm đềm của dạ hội, của buổi hòa đàn trong hương trầm ấm cúng, trong thướt tha những tà áo dài, những bộ soirée dịu dàng quý phái; những lời thầm thì khẽ khàng nhiều ngụ ý, những ly rượu thơm nồng.

Than ôi, dù mơ hay thực thì dòng đời vẫn cứ trôi, xuôi theo thời gian, năm tháng, nhưng tại sao phải để thực tiễn trần trụi chen vào giấc mộng Nam kha này nhỉ? Ai cấm kẻ lãng tử tưởng rằng mình là kẻ anh hùng mã thượng nghiêng mình với người đẹp bên thành Cô Tô, đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn san vọng lại. Và thực thể dẫu là một kẻ tha hương, đói rách cùng cực, nắm thân tàn vùi bên giòng sông Danube cũng là nét đẹp, chấm phá trong bức tranh trừu tượng của một kiếp người!

Tiếng độc thoại vang lên: ba trăm năm trước, ta chẳng là ai, thêm ba trăm năm nữa về sau dù thật dài nhưng chỉ là một sát na trong cái mênh mông vô hạn của thời gian. Giữa cái vô nghĩa của sự tồn tại ấy, vẫn tồn tại một ý niệm về sự lãng du, sự ra đi không hẹn ngày trở về!

Kỷ niệm, hồi ức sao mà đẹp quá, thuần khiết quá đến nỗi kẻ lãng du phải bỏ chạy, phải xa lánh những nào trốn vào đâu được. Không còn chốn riêng, không còn không gian ắng lặng cho tâm hồn. Giờ đây niềm thương nhớ mãi là hành trang trên con đường xa xăm phía trước.

——————
BÊN CẦU BIÊN GIỚI
Ngừng đây soi bóng bên giòng nước lũ
Cầu cao nghiêng dốc trên giòng sông sâu
Sầu vương theo sóng xuôi về cuối trời
Một vùng đau thương chốn làng cũ quê xưa
Người đi chưa hết hương sầu lữ thứ
Hồn theo cánh gió quên tình xa xưa
Tuổi xanh như lá thu rụng cuối mùa
Mộng về đêm đêm khát vừng trán ngây thơ

Em đến bên tôi một chiều khi nắng phai rồi
Nắng ngừng bên chiếc cầu biên giới
Xa xa thoáng đàn trầm vô tư
Ðâu đây dáng huyền đẹp duyên mơ

Bên cầu biên giới
Tôi lặng nghe dòng đời từ từ trôi
Sông nước xa xôi,
mây núi khắp nơi
Không tỏ một đôi lời

Ôi giấc mơ qua
Mộng đời phiêu lãng giang hồ
Sống trong lòng người đẹp Tô Châu
Hay là chết bên bờ sông Danube
Những đêm sáng sao

Nhưng đường quá xa vời
Hương trời vẫn mê mài
Ðời tôi sao vẫn còn biên giới
Lòng tôi sao vẫn ngừng nơi đây
Ôi dòng tóc êm đềm!
Ôi bể mắt đắm chìm!
Ðời phong sương cũ, chỉ là thương nhớ
Mộng bền năm xưa
Chỉ là mơ qua.

Cái bếp lò (Truyện ngắn)

Người viết

Nguyễn Hoàng

(Mấy lâu nay bận, chưa viết bài mới về chuyện nhạc nhẽo, copy tạm truyện ngắn này vào đây cái đã)

Mỗi lần về nhà ngoại vào dịp giỗ tết, Nhi luôn nhớ đến cái bếp lò cũ kỹ, đầy bụi bặm nằm trong góc căn bếp hiện đại của cậu Tâm.

Ông ngoại mất từ hồi bà ngoại còn trẻ. Ở vậy suốt một đời chăm chỉ làm lụng, nuôi dưỡng các cậu, dì nên người, dấu vết vật chất ngoại để lại chẳng có gì ngoài chiếc bếp lò. Phục vụ hai bữa ăn cho cả nhà, chiếc lò còn nấu gánh bún, rổ khoai để bà mang ra chợ bán hằng ngày, đó là nguồn thu nhập chính của gia đình vào thuở khó khăn. Sau này, khi đời sống khấm khá lên và cả đến lúc tuổi già, ngoại vẫn thích tự tay nhóm lửa nấu bếp. Có lần mợ Tâm mua chiếc lò thay cho cái cũ bị hỏng nhưng cái mới dùng không tốt: nhen lửa đã khó, khói nhiều và tốn củi. Ngoại phải ra chợ chọn chiếc khác. Kinh nghiệm bao nhiêu năm của ngoại đã mang về những chiếc lò lửa cháy đều, cời tro dễ và không bị khói. Chừng đó đủ để thấy ngoại gắn bó với chiếc bếp lò như thế nào rồi.

Thỉnh thoảng, gia đình các cậu, dì ở ngoài huyện, trên thành phố kéo nhau về thăm ngoại. Đường xa mấy chục cây số, chạy xe máy trong thời tiết ẩm ướt mùa đông, vào nhà bắt gặp lò lửa hồng ngoại nhóm thì không có gì bằng, nhất là mấy đứa nhỏ. Chúng bâu chung quanh ngoại, hơ tay cho nóng rồi xoa lên má, lên tai, bỗng chốc cái lạnh, cái rét mướt biến nhanh.

Ngày cậu Tâm làm nhà mới, gian bếp được lát nền gạch hoa bóng loáng. Tường ốp đủ loại gạch men trang trí, hệ thống bếp ga và tủ đựng thức ăn, chạn bát được bố trí hài hòa thì cái bếp lò tất nhiên là vô dụng. Cậu Tâm định đem chiếc lò ra để ở kho đựng vật dụng linh tinh nhưng ngoại không đồng ý, bảo cứ để trong bếp thỉnh thoảng ngoại nhóm lửa cho ấm cửa, ấm nhà. Ngoại cũng ý tứ là chỉ mua than hoa về nhóm lò, quạt lửa để tránh ám khói nhà bếp. Ngoại không chịu dùng bếp ga vì có lần bà làm cháy nồi cá kho do không biết cách làm nhỏ ngọn lửa nhưng cái chính có lẽ ngoại thấy ngọn lửa than, màu sắc và mùi lửa ấm cúng, thân thuộc hơn.

Nhi vẫn nhớ như in, lần cuối được ngoại ủ ấm bên lò lửa hồng trong chiều mồng một tết con cọp. Lũ cháu con cậu, con dì quây quần bên bếp. Ngoài trời mưa phùn lâm thâm, gió bấc vi vút khiến cái rét len lỏi khắp mọi chốn. Ngoại rang đậu phụng hạt trên chảo gang rồi đổ ra trên chiếc giần, ai nấy nhón từng hạt nóng hôi hổi, bỏ vào miệng thấy ngon chi lạ. Chúng vừa ăn, vừa trêu ngoại:

– Bà ơi, bà là người “Môhican cuối cùng”; à không, “người nhóm lò cuối cùng”.

Đứa khác thì bảo:

      – Ngoại không dùng bếp ga thì để con mua cái bếp điện để ngoại dùng, nó cũng giống cái lò củi này nhưng khỏi quạt thổi lửa.

Ngoại móm mém cười và mắng yêu:

      – Cha bây, nhờ cái lò bếp này mà bà đã nuôi ba mẹ các con nên người đó. Giờ thì già rồi, lẩm cẩm nên không quen dùng bếp ga, bếp điện, bà sợ.

Ngừng lại một chút, bà thở dài và nói thêm:

       –  À, mà ở nhà này, bà trở thành “người nhóm lò cuối cùng” rồi. Sau này chắc không ai dùng đến cái bếp lò, không có ai đốt lửa sưởi ấm cho các con nữa.

Dì Út nghe giọng ngoại ngậm ngùi liền bảo:

      –  Ngoại đừng lo, lúc nào ngoại yếu, Út nhóm lò, thổi lửa cho ngoại mà.

***

Hơn nửa năm sau đó thì ngoại mất đột ngột vì bệnh tim. Chiếc bếp lò được dì Út giữ lại để một góc, nằm lạc lõng trong căn bếp hiện đại. Cậu Tâm một phần nhớ thương ngoại, phần thì chiều dì nên cứ để yên chỗ cũ. Chỉ khổ mợ Tâm phải nhiều lần giải thích với người quen lý do giữ chiếc lò bếp lại nhưng ai nấy đều bảo thời nào thì thức ấy, để đó chẳng làm gì, thêm vướng. Những năm sau, mỗi lần tết đến, khi cúng tất niên xong, ba mẹ, cậu dì thường tụ họp quanh bếp, gợi chuyện xưa và bao giờ đề tài chiếc lò cũng là câu chuyện rôm rả, đôi khi gây xung khắc nhưng chiếc bếp lò chẳng  được ai nhóm lên.

Cậu Minh, con trưởng nhưng sống ở thành phố khá lâu, tính tình cởi mở, có phần xuề xòa giống ngoại thì bảo:

      – Chú Tâm còn để cái bếp lò làm gì cho choáng chỗ. Bếp núc tinh tươm thế này mà chơi ông đầu rau chình ình ở đây ngó ngứa con mắt.

Cậu Tâm chưa kịp trả lời, dì Út vốn được ngoại và cả nhà cưng lên tiếng:

      – Anh Minh thì sang trọng rồi. Cái bếp là vật kỷ niệm của mẹ mà anh đòi vất đi. Anh đừng có vô tâm.

Cậu Minh quay lại cà khịa:

– Mày quá lạc hậu Út ơi. Nhớ mẹ, lưu giữ kỷ niệm của mẹ thì thiếu chi cách. Mày có thấy như anh tính tình giống mẹ không? Thấy anh thì cũng như thấy mẹ.

Dì Út bắt đầu sụt sịt:

– Anh thì giỏi rồi, chứ em mỗi lần thấy cái bếp lò thì như thấy ngay hình bóng của mẹ.

Cậu Minh khiêu khích:

– À, hay cô Út muốn mang về thì chú thím Tâm cho cô nhé.

Dì Út đáp trả ngay:

– Anh nói hay nhỉ. Để cái bếp lò ở đây mới có ý nghĩa chứ mang lên chỗ em, mấy khi cả nhà đến thăm đầy đủ với đứa út này.

Cậu Tâm dàn hòa:

– Để cái bếp ở đây thì cũng có vướng. Nhưng anh em mỗi lần tụ họp thì thấy ấm cúng. Không sao, khi nào nó bệ rạc quá thì bỏ đi.

Giờ thì cậu Tâm ít quan tâm lắm chuyện cái bếp lò đặt ở đâu vì không thường xuyên vào bếp. Hơn nữa, cậu muốn giữ không khí thuận hòa trong gia đình nên giọng nói có phần ba phải. Mợ Tâm chắc thầm tán đồng với cậu Minh nhưng trong lúc này thì cũng xuôi theo ý chồng chứ cái bếp lò mà dẹp được thì không gian thoáng ra biết mấy.

Sau đó cậu Tâm thuê thợ mộc đóng cái giá như là chiếc tủ nhỏ với cánh cửa lửng. Chiếc lò  được  đặt vào ngăn dưới, ngăn trên đặt bộ ly uống nước, vài vật dụng trang trí linh tinh. Chuyện chiếc lò được giải quyết khá ổn thỏa nhưng công năng của nó không còn thể hiện nữa.

Nhưng rồi cũng chỉ được thời gian đầu. Về sau, lớp tôn quấn quanh chiếc lò đã rỉ sét, lớp gạch, xi măng bong tróc ra từng mảng. Thêm nữa, gián, dế chui vào làm tổ khiến cái giá gỗ không che hết vẻ nhếch nhác. Năm tháng tiếp nối, việc bà ngoại mất cũng nguôi ngoai dần. Đến lúc đó, không cần mợ Tâm nhắc nhủ, cậu Tâm cũng đã mang chiếc bếp lò ra vất thùng rác và cất luôn cái giá đựng.

Tết năm nay, đại gia đình tụ họp khá đầy đủ. Cúng bái, ăn uống xong, các cậu, dì tụ tập trong căn bếp theo thói quen. Trời giá buốt, dường như tết này lạnh nhất trong mấy năm gần đây. Mùi khói hương, tiếng người chuyện trò rộn ràng nhưng không xua cái rét đi được. Ai cũng có cảm giác thiếu cái gì đó, cuối cùng dì Út chắc lưỡi:

– Giá còn cái bếp lò mà nhóm lửa cho ấm nhỉ.

Cậu Minh trêu:

– Chưa già mà đã sợ lạnh. Nhóm lửa hả? Cần gì bếp lò. Cô Út lấy chiếc chậu nhôm là nhen lên được ngay thôi.

Dì Út ngúng nguẩy:

– Anh Minh giỏi thì đi nhóm đi. Ở thành phố biết gì mà củi lửa. Có cái bếp lò mà cứ nay đòi vất, mai đòi bỏ, giờ lấy gì mà nhóm. Anh thấy chưa, nó không chỉ là kỷ niệm mà còn cần thiết như lúc này.

Cậu Minh tếu táo:

– Cái bếp lò đã hoàn thành “sứ mạng lịch sử”, để nó yên nghỉ là đúng  rồi. Bắt nó phục vụ khi đã quá đát là không thuận lòng trời đâu.

Cậu Tâm, người luôn đóng vai trò hòa giải lên tiếng:

– Bác Minh và cô Út cứ khắc khẩu. Bây giờ còn cái lò thì nhóm lửa cũng không được. Củi than không, trấu tro nỏ có thì nhóm bằng cái gì. Ráng chịu lạnh đi. Ngày xưa, anh em mình chỉ mấy chiếc áo vải sờn mặc chồng vào nhau cũng qua hết bao nhiêu mùa đông, nay thì đủ loại len dạ, sợ gì lạnh nữa.

Cậu Minh phân bua:

– Khắc khẩu gì đâu. Thấy con Út đàng điệu như bà già, anh khoái chọc chơi. Tưởng anh không đốt lửa được à. Nhớ thời chúng mày còn bé, bao nhiêu lần anh phải dậy sớm giúp mẹ nhóm lò, thổi lửa nên chuyện đó trở thành kỹ năng rồi. Giờ chỉ cần ra vườn bứt mấy nhành cây khô và thêm tờ giấy loại là có ngay bếp lửa, cần gì phải tro trấu. Nhưng thôi, chú Tâm nói phải, phải biết vất bỏ những thứ không còn phù hợp với thời cuộc…

Cậu Tâm đồng tình tiếp lời:

– Cũng như chuyện đốt pháo. Khá lâu rồi, không nghe tiếng nổ đì đùng vào đêm giao thừa thì cũng thiếu phần ấm cúng. Nhưng dân mình kém quá, xài pháo thiếu ý thức, làm cháy nổ gây bao thảm cảnh nên dù đó là truyền thống lâu đời mà chính phủ cấm thì mọi người đều đồng tình thực hiện.

Tiếng nhạc xuân phát ra từ chiếc ti vi trong phòng ăn vang lên. Mợ Tâm chợt nhớ đến giàn karaoke mới tậu tháng trước nên mời mọi người lên phòng khách thử giọng.  Cánh phụ nữ và bọn trẻ hào hứng với những bài ca quen thuộc. Cánh đàn ông vào phòng ăn, lai rai với chén rượu, nói chuyện thời cuộc.

Chuyện về chiếc bếp lò chắc là ngừng hẳn từ đây.

N.H

Đã đăng ở Tạp chí Non Nước, 4/2013

http://vannghedanang.org.vn/app/webroot/nonnuoc/chitiet.php?id=1269&so=57

 

 

Học sinh Hàm Nghi hành khúc

Người viết:

Nguyễn  Văn Thiết

(Các bạn nhớ bấm vào bản nhạc để thấy ảnh rõ hơn nhé.)

Những hồi ức tản mạn về nhạc Trịnh

Người viết:

Nguyễn Hoàng

Mình được nghe nhạc Trịnh, bài đầu tiên là Diễm xưa, do cô giáo dạy Văn hát vào dịp tết năm 1969 khi đang học lớp 7. Vào thời ấy, đúng là tuổi gì mà đòi thẩm ca từ của nhạc Trịnh nhưng âm điệu, giọng hát của cô giáo lôi cuốn lũ nhóc nên tên Trịnh Công Sơn được chú ý.

Sau đó những bài trong tập “Ca khúc da vàng” được nghe, được hát nhiều hơn, ca từ cũng dễ hiểu hơn. Chẳng hạn, bài “Gia tài của mẹ” học sinh, sinh viên hát đơn ca, đồng ca ra rả, được khá nhiều người đồng cảm với những câu “Một ngàn năm nô lệ giặc tàu,.. Gia tài của mẹ một lũ lai căng, gia tài của mẹ một lũ bội tình”. Tiếp nối là những bài “Người con gái Việt nam”, “Đại bác ru đêm”, “Du mục”, “Tình ca người mất trí”, “Hát trên những xác người”,… với giọng ca “liêu trai” của Khánh Ly như có ma lực thu hút người nghe trong giai đoạn chiến tranh ấy. Với Trịnh Công Sơn, có lẽ Khánh Ly nổi lên, thành công hơn đối với các ca khúc phản chiến so với tình ca.

Đến nay, dường như chưa có ai khác hát các bài phản chiến này như một thương phẩm để phát hành có lẽ họ cảm thấy không thể vượt qua được KL chứ tập Ca khúc da vàng không phải viết độc quyền dành KL.

Hầu hết sinh viên học sinh miền nam từ nông thôn đến thành thị đều thuộc “Nối vòng tay lớn”, “Đại bác ru đêm”,… Còn những bài tình ca như “Ướt mi”, “Tuổi đá buồn”, “Tình sầu”,… vẫn được nhiều người ngâm ngợi nhưng không được lan truyền mạnh như những ca khúc “phản chiến” nói trên.

Về tình ca, sau này có lẽ nhiều người làm quen KL&TCS qua băng nhạc Sơn ca 7 phát hành năm 1974. Một số bài chỉ được đệm nhạc đơn giản bằng cây guitar thùng, khá phù hợp với giọng ca “nhừa nhựa” nhưng chưa bị khàn của KL thời trẻ như “Tình sầu”, “Hạ Trắng”, “Còn tuổi nào cho em”, “Cho một người nằm xuống”,…

Trước khi Sơn ca 7 ra đời, không rõ những tình khúc của TCS&KL được thu âm và phát hành như thế nào, nhưng các tác phẩm này đã nổi tiếng có lẽ nhờ những buổi trình diễn của TCS&KL dành cho sinh viên (quán Văn ở Sài Gòn, Trung tâm Liễu Quán ở Huế), ví như năm 1972 có những quán cà phê ở Huế mang tên Hạ Trắng và mình đã gò lưng chép vào cuốn sổ nhạc và tập thổi sáo trúc các bài Hạ trắng, Ru em từng ngón xuân nồng rồi.

Trịnh Công Sơn ảnh hưởng đến giới học sinh, sinh viên không chỉ bằng những nhạc bản với ca từ mộng mị mà còn chữ viết nữa. Những tập nhạc được in trên giấy Croquis, phụ bản của họa sĩ Đinh Cường hay Bửu Chỉ do Trịnh Công Sơn viết tay, đặc trưng mấy chữ cái như g, n, t, r,… được học sinh bắt chước viết theo không chủ định. Cho nên mình nghiệm lại cũng thấy đôi điều là lạ, rằng ca từ của Trịnh đôi khi trừu tượng, siêu thực nhưng cũng được khá nhiều tầng lớp công chúng yêu thích từ chị tiểu thương đến anh trí thức có lẽ từ những cái đơn giản nhưng ngồ ngộ, khác thường sao đó.

Sau ngày thống nhất đất nước, những nhạc phẩm cũ sáng tác ở miền nam im ắng một thời, một phần vì không được phép hát, phần khác ở tỉnh lẻ hầu như ít ai có phương tiện để thưởng thức nhạc dù chỉ là một chiếc máy cassettes player. Học sinh, sinh viên cũng ít người chịu khó tỉ mẩn chép lại “nhạc xưa”. Ngoài nhạc đỏ, những bài tình ca được quan tâm là nhạc Nga, lời Việt như “Chiều ngoại ô Matxcova”, “Ngôi sao ban chiều”, “Đôi bờ”, “Chiều hải cảng”, “Đôi mắt màu hạt dẻ”,… hoặc những bài trong nước như “Đi qua vùng cỏ non”, “Tình ca mùa xuân”,…

Nhạc phản chiến hay tình ca của TCS cũng nằm trong trạng huống chung ấy. Qua giai đoạn “quân quản”, âm nhạc trở về thuộc tính tự nhiên: xưng tụng cái đẹp, tình yêu đôi lứa,… nên những tác phẩm có giá trị lại được thính giả quan tâm. Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên, những tape nhạc Trịnh được KL hát và thu âm ở hải ngoại, được mang về nước và đến Huế phần lớn đi từ Hà Nội vào nhiều hơn từ Sài Gòn ra.

Với mình, đến năm 1988 mới có cơ hội nghe nhạc trở lại, nhờ mua được cái cassettes player mono hiệu Phillips, lúc đó giá khoảng 0,8 chỉ vàng (gần bằng 6 tháng lương). Từ đó cố công đi sưu tầm băng cassettes để nghe nhất là tìm đến nhà bạn nào có máy 2 hộc băng để sang lại. Việc mua băng cassette trắng không phải là việc dễ dàng vì nó khá đắt so với giá cả sinh hoạt. Ở Hà Nội cũng có bán những tape được chế từ các cuộn “băng cối”, cắt mỏng ra với giá cả phải chăng nhưng nó hại đầu từ của máy ghê gớm,… Tình ca của TCS được ưu tiên chọn để sưu tập và nghe lại.

Thêm vài chuyện nhỏ đối với mình về đôi bản nhạc của TCS. “Hạ trắng” là một bài mình rất thích cho dù sau này mới biết sự tình câu chuyện do TCS kể khi viết bài này, cũng có thể xem như bài cuối cho Diễm. Ngoài KL hát ra thì còn nhiều ca sĩ tiếng tăm khác hát như Lệ Thu. Giọng Lệ Thu bài này rất ngọt ngào, ấm cúng chứ không “chát” như KL. Tuy nhiên có mấy từ “anh, em, tôi” Lệ Thu thay đổi khiến cái hồn bài hát không còn nguyên vẹn nên mình định kiến với LT một thời gian chứ thành thật, KL hát bài này không bằng LT. Sau này, dù nhiều người hát nhưng không thấy ai có thể vượt qua LT & KL.

 Bài này được guitarist Đỗ Đình Phương biên soạn hòa âm độc tấu guitar và có một lần trình diễn trên TV (nghe ở ĐÂY) khiến mình mê mệt nên tìm nhạc bản để tập đàn nhưng không có năng khiếu, tập hoài cũng chẳng nên hồn gì. 

Bài “Còn tuổi nào cho em” biết thì từ rất sớm, chỉ nghe một vài lần gì đó do KL hát trước 75. Sau này mình cố công đi tìm nhưng không gặp; các tape mang về nước, các đĩa KL được sao chép cũng không thấy bài này. Phần lớn là gặp Trịnh Vĩnh Trinh, Thu Hà,… hát nhưng có cảm giác như ăn món ngon nhưng nấu chưa tới. Cho đến khoảng 7, 8 năm trở lại đây, nhờ internet mình mới tìm được các file mp3 do KL hát, lúc đó mới thấy thật sự hài lòng. Đây cũng là bài mình thường “ngâm ngợi” từ thuở đôi mươi cho đến lúc tóc đã 2 màu, không hiểu sao khi nghe bài này mình cảm thấy có chút gì đó man mác, phấn chấn, chút gì đó cảm hoài,…

Gần đây, Thái Hòa và Jennifer có song ca và phối khí hơi là lạ, mới nghe thì cũng thú vị nhưng nghe nhiều không bằng Khánh Ly.

Bài hát biết muộn màng hơn nhưng mình lại thấy phù hợp tâm trạng ở nhiều thời điểm khác nhau đó là “Phôi pha”. Khoảng đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, khi xa nhà, lang thang Hà Nội, khi tuổi đời bắt đầu ngả sang dốc bên kia và “sự nghiệp” chưa định hình rõ, bài này này là nguồn an ủi đối với mình.

Trong version này của KL, nghe tiếng “hú, tiếng đàn banjo mở đầu và đệm giữa bài khiến những niềm riêng của mình trở nên bé nhỏ, khiến cho những “va chạm” của cuộc đời cũng dễ tan biến hư vô,…

Phổ nhạc Trịnh trải khá rộng chứ không chỉ những bài tình ca “ủ rũ” như thường bị phê bình. Những bài mang âm sắc vui tươi cũng không phải là ít, thường được viết theo gamme majeur như Fa trưởng, Đô trưởng, Rê trưởng,…

Có thể kể một số bài như vậy: Hãy yêu nhau đi, Mưa hồng, Khói trời mênh mông, Ngẫu nhiên, Biết đâu nguồn cội, Quỳnh hương, Ở trọ, Nắng thủy tinh, Tuổi đời mênh mông,… Những bài với gamme mineur như “Nối vòng tay lớn”, “Ta thấy gì đêm nay”, “Như cánh vạc bay”,… cũng không thể nói là “sầu mộng” được.

Một số nhạc phim như “Đời gọi em biết bao lần” trong phim Tội lỗi cuối cùng, “Em là hoa hồng nhỏ”,… cũng là những bài hay và trở thành những tác phẩm độc lập.

Nếu giai đoạn đầu ca từ đôi lúc mang chút “sến” như trong bài “Thương một người”, “Ướt mi” thì sau này dù diễn tả những bà mẹ cách mạng, cô gái lầm lỡ hay em bé thơ ngây, ông không viết ca từ kiểu sáo mòn như “chơi vơi”, “hoen mi”, “sương rơi” “ướt đôi môi”,…

TCS là thế đó. Vui-buồn, mạnh mẽ-mỏng manh, triết lý-đời thường, trừu tượng-cụ thể đều có. Nếu bằng tấm lòng vô tư đến với ông thì trong những khoảnh khắc nào đó cũng sẽ tìm được ca khúc phù hợp với tâm trạng, hoàn cảnh của mình.

 Như trong một bài phỏng vấn, TCS có nói đại ý là cảnh Huế, người Huế là chất liệu để ông viết lên những bản tình ca dù không có một từ Huế nào trong đó. Nhưng giờ đây  không dễ để người nghe có cùng cảm nhận như nhạc sĩ, có chăng chỉ vài bài như “Mưa hồng” với “Đường phượng bay mù không lối vào, Hàng cây đó xanh gần với nhau”. Ấy  là đường Đoàn Thị Điểm, con đường mộng mơ của những chàng học sinh Hàm Nghi ngày xưa ở nội thành. Trước đây, 2 bên đường trồng nhiều phượng đỏ nhưng sau này chúng già cỗi và người ta đốn chặt gần hết. Đường phượng bay ấy nay chỉ còn trong tâm tưởng thôi.

Còn bài “Có một giòng sông đã qua đời”, trong đó có câu nói về loài cây khá đặc trưng cho Huế,

 “Mười năm xưa đứng bên bờ dậu.

Ðường xanh hoa muối bay rì rào.

Có người lòng như khăn mới thêu.”

Huế là nơi trồng khá nhiều cây muối, chẳng hạn đường Hùng Vương (trước 75 là đường Duy Tân), đường Lê Lợi, đường Phan Đình Phùng, đường Đoàn Thị Điểm,… và hình ảnh hoa muối bay rì rào ấy đúng là ở Huế.

Như ai đã nói, TCS đã tiên đoán đúng về “một giòng sông đã qua đời” mà thật ra là nhiều chứ không chỉ một. Riêng ở Huế, giòng sông An Cựu, “nắng đục mưa trong”, giờ đã trở thành con sông “thối hoắc” vì ô nhiễm nặng nề; sông Hương thì cũng đang ngắc ngoải.

Tản mạn về bài hát “TẠ ƠN” của Trịnh Công Sơn

Người viết
Nguyễn Hoàng
Mấy hôm nay trời Huế chuyển mùa và cũng bị ảnh hưởng các cơn bão xa. Dọc theo các con đường Lê Lợi, Hùng Vương,… những cây muối loang lổ màu đỏ của đám lá già giữa vùng lá xanh; những cây điệp (lim sét) thì lá đổi màu “bỗng vàng, bỗng xanh” rồi “lá úa rơi mù” làm cho ca từ của một số bài hát của họ Trịnh quay về trong ký ức.

Bẵng khá nhiều năm sau khi bước qua thời tuổi trẻ, tôi không nghe nhạc Trịnh (cũng như một số nhạc phẩm khác ở miền nam do không có phương tiện nghe nhìn). Mãi cho đến lúc sắm được một máy cassette player mono hiệu Philips, tôi bắt đầu săn lùng nhạc để nghe. Chuyện ấy đã diễn ra cách đây gần một phần tư thế kỷ.

Không phải như thời nay, các thiết bị nghe nhìn, lưu trữ vô cùng phong phú. Ngày ấy, ở một tỉnh nhỏ không có nhiều tiệm thu băng nhạc, số băng cũ lưu lại không nhiều, các băng nhạc hải ngoại chưa được phép mang về nên tìm được, nghe lại được bài gì đôi lúc là nhờ sự chịu khó của mình cũng như tình cờ mà có được.

Các bản nhạc phổ biến của họ Trịnh tôi được nghe lại từ băng Sơn Ca 7 với Tình nhớ, Tình sầu, Nắng thủy tinh, Hạ trắng,…. Riêng bài Tạ ơn của Trịnh thì nghe từ một băng tổng hợp các bài hát của nhiều nhạc sĩ. Tôi không rõ ấy là băng gốc hay ngươi ta đã sao chép, ghép nối từ những băng khác nhau.

“Tạ ơn” không phải là bài tôi thích nhất hoặc thường nghe nhưng về sau đôi lúc tình cờ thoáng nghe, giọng ca Khánh Ly đưa tôi vào một tâm trạng “sắc sắc không không”, khó diễn đạt thành lời. Trạng thái “tâm viên, ý mã” ấy cứ lang thang, trộn lẫn chuyện xưa, chuyện nay chuyện hư, chuyện thực trong chốc lát thư giãn nào đó.

Dù đến rồi đi tôi cũng xin tạ ơn người, tạ ơn đời, ta ơn ai đã đưa em về chốn này, tôi xây mãi cuộc vui.
Dù đến rồi đi tôi cũng xin tạ ơn người, tạ ơn đời, tạ ơn ai đã cho tôi còn thấy những ngày ngồi mơ ước cùng người.

Bản nhạc được viết theo cung La trưởng, phối trí kiểu A-B-A, giai điệu nhẹ nhàng, chầm chậm, không có kỹ thuật phức tạp. Chỉ cần dùng các dây số 2 đến số 5 trên cây đàn guitar là đủ để chơi trọn vẹn bản nhạc cho nên hầu như giọng ai cũng hát được nhưng để hát hay, có hồn và chọn đúng cách hòa âm phối khí cho phù hợp thì có vẻ rất khó vì thấy không có nhiều ca sĩ hát. Ngoài ra tôi không thỏa mãn với phần nhạc đệm hiện nay so với lần tôi đã nghe.

Có thể TCS viết ca khúc này dành cho một người tình nhỏ đã đi qua trong cuộc đời của ông ấy với những gì còn đọng lại là nhẹ nhàng, sâu lắng nhưng nào cấm ai liên tưởng đến “em” cũng là một công việc, một “sự nghiệp” một vật thân thương nào đó trong một chặng đời của mình. Công việc ấy đôi lúc là niềm vui, hứng khởi, có khi là nhàm chán nhưng là một thực thể tồn tại và gắn bó với mình nên khi đi qua rồi, lòng vẫn đọng chút nuối tiếc mơ hồ và tư thế thì chưa sẵn sàng chờ đón cái mới đến.

Nếu đoạn đầu như là lời nói xã giao, đưa đẩy lịch sự khi người ta giã từ hay ngoảnh mặt làm ngơ thì sang đoạn giữa, nhạc điệu và ca từ chuyển đổi sang độc thoại một cách thâm trầm, sâu lắng:

Ôi mênh mông tháng ngày tháng vắng em,
Tình như lá bỗng vàng bỗng xanh.
Em ra đi như thoáng gió thầm,
để lại đây thành phố không hồn.
Qua con sông nhớ người đã xa,
Thành phố vẫn nắng vàng, vẫn mưa.
Cây sang Thu lá úa rơi mù,
Chuyện ngày xưa heo hút trong mơ.

Là lời của một người đối diện với nỗi cô đơn, hồi tưởng những vui buồn, những điều đã chiêm nghiệm, đã trải qua. Không oán trách, không chua xót ngậm ngùi mà chỉ là thoáng chút bơ vơ nhưng cũng không mong sự tái hợp. Những gì đến thì phải đến, đi thì đi, dòng đời là một chuỗi sự kiện ngẫu nhiên và tất định nối tiếp nhau.

Khi “em” đã rời xa, để lại đây những con đường, những giòng sông, hàng cây, có nắng vàng, có mưa rơi. Tất cả đều trở thành ký ức, giấc mơ như nước tuôn từ suối nguồn ra biển cả; muốn trở về lại ngày xưa ấy thì chỉ còn cách hóa kiếp bốc hơi biến thành cơn mưa rào mà thôi.

Khi nghe/hát bài này, ta cảm một nỗi niềm cô đơn dâng lên, cô đơn nhưng không tuyệt vọng, không buồn tủi vì nó là quy luật. Thì thầm với “em”, với người “tình xa” chỉ nhằm giải tỏa ẩn ức của những khoảng khắc cuộc đời trong lúc đồng hành với “kiếp sống lẻ loi”.

Rồi tỉnh táo lại, lời cám ơn sau cùng càng lịch sự và khách sáo nhiều hơn và cũng hiện thực hơn:

Dù đến rồi đi tôi cũng xin tạ ơn người, tạ ơn đời, ta ơn ai đã cho tôi còn những ngày quên kiếp sống lẻ loi.
Dù đến rồi đi tôi cũng xin tạ ơn người, tạ ơn đời, ta ơn ai đã cho tôi tình sáng ngời như sao xuống từ trời.
…..
Những lúc “thu mình” lại, tôi nghe bài này với giọng Khánh Ly ở một khoảng cách xa xa, thoang thoảng mới thật là thấm.

Huế, tản mạn

Nhiều lúc tôi muốn viết điều gì đó về Huế mình nhưng không biết viết điều gì. Lý do đơn giản là có nhiều người viết, nhiều người nói và cũng nhiều người ca tụng (đôi lúc hơi quá) về xứ Huế này.

Tôi bắt chước Nguyễn Ngọc Thuần “Vừa nhắm mắt, vừa mở cửa sổ” (1), nhưng khác với Thuần, nghĩa là nhắm mắt lại không phải để đoán nhận những việc diễn ra mà để “thấy” không gian và thời gian của Huế trôi qua một cách tùy hứng, như con thuyền trôi giạt không bến bờ: đang ở bên cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp, thoắt một cái rón rén bước chân vào chùa Linh Mụ; vừa ở đỉnh núi Bạch Mã cao vút, lát sau chạy ào xuống biển Lăng Cô; đang giữa mùa Festival 2008 lại quay về cái thời xa xăm ngày tôi 20 tuổi,…

Hãy cho tôi cái quyền được vẫy vùng trong không gian mộng ảo, trong thời gian tâm lý ấy để nói thêm một chút gì về Huế của mình.

Huế, những cơn nắng hạ trên đường Đoàn Thị Điểm, “đường phượng bay” của Huế, của mái trường Hàm Nghi yêu dấu. Thành cổ rêu phong cũng úa màu khi không khí khô nồng từ phía tây không mời mà đến. Những xác phượng hồng trải đầy gốc thỉnh thoảng xoay tròn khi ngọn gió thốc tung lên chen lẫn bụi đường.

Giòng sông chiều lơ đãng, phảng phất khói trắng của nhà máy xi măng Long Thọ, xa xa về phía tây nam của Huế. Lang thang từ chùa Linh Mụ về thành phố trong khoảnh khắc chuông chiều buông, phóng mắt tầm xa, ta thấy phía đông thấp thoáng lâu đài của những khách sạn, nhà hàng ẩn hiện qua mấy nhịp cầu Bạch Hổ, Trường Tiền; nhìn gần hơn những hàng bằng lăng mới trồng dọc theo bãi sông trên vùng đất Kim Long cũng kịp nở hoa tím biếc.

Những ngày mưa gió tả tơi, se lạnh, có những đôi bạn trẻ khoác tay nhau trên đường với chiếc dù yếu ớt nhưng niềm vui rạng rỡ. Dù đang ở con đường chính, trung tâm là Lê Lợi hay góc phố Trương Định, tất cả đều không xô bồ, đủ yên ắng để đôi bạn thủ thỉ, tâm tình, không bị tiếng còi chát chúa, những tạp âm chen lẫn ngắt ngang những lời dịu dàng họ trao cho nhau.

Huế như sương khói mơ hồ, lãng đãng. Huế có những thiếu nữ dịu dàng e ấp, có quý bà mệnh phụ, đài các, vừa tự tôn cũng vừa ngại ngùng, rụt rè.

Huế của những ngày chớm đông, khi “bầu trời chập chùng”, khi các em học sinh của trường Quốc học, Hai Bà Trưng tựu trường. Những tà áo dài trắng muốt, thơ trinh cùng đùa với gió, những tâm hồn chưa gợn chút bụi trần.
Thế nhưng, Huế giờ đây cũng có những áo 2 dây cũn cỡn khoe những tấm lưng trần trắng muốt, những chiếc áo dài mỏng tang, “hide everything, hide nothing” làm đỏ mặt của những “ông già đạo mạo” khi tình cờ liếc ngang.

Và Huế, một “khung trời đại học”, một thành phố lịch sử với Viện Đại học có bề dày gần 55 năm thành lập, vẫn trăn trở tìm lối đi cho mình trong “thị trường giáo dục”, vàng thau lẫn lộn này.
————–
(1) “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ”, Truyện của Nguyễn Ngọc Thuần, đạt giải A cuộc thi sáng tác văn học dành cho thiếu nhi.

Previous Older Entries